CÁCH HỌC TỪ VỰNG HIỆU QUẢ VÀ THÔNG MINH

CÁC PHƯƠNG PHÁP HỌC TỪ VỰNG HIỆU QUẢ 

Dựa trên kinh nghiêm và cùng 1 số tích lũy từ kinh nghiêm của người khác, mình xin giới thiệu cho các bạn 1 số cách để “boost your vocabulary to the great extent”  :)))

  1. HỌC THEO SYNONYMS/ANTONYMS:

Đây là cách học hiệu quả, đặc biệt đối với những bạn đang tập viết essay vì thường viết essay, chúng ta phải paraphrase bằng cách sử dụng từ đồng nghĩa để tránh lặp từ. Khi phát hiện 1 từ mới, “look up” từ đó và kèm theo cả synonyms/antonyms, học theo cách này đảm bảo từ vựng của bạn tăng đáng kể vì từ 1 từ đã có thể nhớ được nghĩa của cả những từ lạ lạ khác.

chẳng hạn như

defect = failing, fault, imperfection, peccadillo, deficiency, foible, weakness, drawback,

happy =glad, pleased, joyous, delighted, elated, ecstatic, jubilant, exhilarated, exultant, joyful, merry, mirthful, cheerful, blissful, content, satisfied.bao nhiêu đấy thôi là nắm cả lũ lun r :v  cứ thể mà phăng

2. HỌC THEO GOOGLE:

Nhà có kết nối mạng thì không gì tuyệt vời hơn là “google” từ mới, nhấn vào google image để xem hình ảnh và 1 số quotes/sentences có kèm từ mới đó. Cách này khác hữu dụng với nhiều bạn đấy :)))) , save hoặc post lên wall để ghi nhớ :)))) Thử tra google từ fortitude đi => chọn image, k những bạn học được cách dùng từ và nghĩa mà còn tích lũy thêm vài cái quote khá là hay. Còn mún tìm hiểu sâu thêm thì cứ vào tin tức mà xem và đọc nhé :v

 3. HỌC THEO PHÂN LOẠI :

 Học phân loại tức là học theo “topic và categories ” của từ như “animals, furniture, fruit, clothes, agriculture , technology…” tự  mình tìm tòi những từ liên quan đến chủ đề đó, lập thành 1 danh sách ( tự tìm hiểu và tự lập ) thì sẽ nhớ lâu hơn là nhờ người khác liệt kê dùm.

Chẳng hạn như

FRUIT: mango, longan, lychee, mangosteen, strawberry…

ANIMAL : dog, duck, cat, hyena, hippopotamus, rhinoceros, giraffe, crocodile, alligator..

4. HỌC TỪ KÈM COLLLOCATION VÀ EXAMPLES : 

Nhìu bạn học từ riêng lẻ kiểu như : DEGENERATE (v) suy giảm, tồi tệ => học theo cách này có thể khiến bạn khó khăn trong việc thành lập từ mõi khi cần đến hoặc hiểu sai cách dùng của từ,  nên học kèm theo như sau

DEGENERATE (v) = become worse ( synonym: deteriorate )

> example: her health degenerated quickly ( she feel not good/ her health is bad )

Có thể chuẩn bị 1 quyển sổ chuyên dụng cho vocabulary + collocation, mỗi lần đọc báo hay làm bài tập reading hoặc practice listening, tất nhiên các bạn sẽ không tránh khỏi việc gặp từ mới, take note cả câu/cụm/collocation và gạch chân key words ( new words ) hoặc dùng mực đỏ để viết key words. Lâu lâu lấy notebook ra mà ngâm cứu, đảm bảo từ vựng bạn lên đáng kể ( kể cả cách cấu tạo từ và câu )Học từ kèm theo học ví dụ KHÔNG BAO GIỜ là cách học sai lầm.

 5. HỌC TỪ QUA LUYỆN NGHE + TAKE NOTE

bạn xem phim, cả 1 bộ phim không tránh khỏi việc gặp từ mới đúng k nhỉ. Thường mình xem phim thì trong quá trình xem vừa take note lại những từ không biết, sau đó thì “look up later”. :)))) khi take note chú ý cả ngữ cảnh đoạn phim. hoặc nghe TED-Ed :))) take note từ mới => tra=> nghe đơt 2 => take note từ đã học mà quên => tra => nghe đợt nữa => hiểu hết r thì thôi. oh yeah, thuộc xong hết từ trong 1 bài clip rồi. Move on to next video :v 

 6. HỌC WORD FORMATION :

Tại sao phải học cái này, đơn giản vì tiếng anh khá đa dạng về từ vựng, nếu chỉ học 1 dạng thức thì khi gặp dạng thức khác, bạn phải lật từ điển tra nữa à.. đâu cần :3  tiếng anh nó hay là ở chỗ từ 1 nghĩa gốc ban đầu ta có thể suy ra nghĩa con cháu chút chít của từ loại khác

Chẳng hạn như :imagine (v) tưởng tượng => imaginary (adj) => imaginarily => imagination => imaginative (Adj) Thế là ta đã học được 5 trong 1 :)))

7. HỌC CÁCH CẤU TẠO TỪ/ PREFIXES/ SUFFIXE :

học cái này không bao giờ là THỪA nếu bạn gặp 1 bài text với đầy rẫy từ mới, đi thi cử, ai cho bạn đem “kim từ điển”, ai cho bạn vác dictionary vào phòng mà check, lúc đó chỉ còn cách đoán nghĩa của từ dựa vào cách cấu tạo suffix vs prefix và root của nó mà thôi.

Chẳng hạn:

prefix INFRA – ( nghĩa là dưới, ở dưới ) => gặp từ inframarginal = dưới lề ( infra = dưới, marginal = lề )

suffix – WARD ( chỉ vị trí, phương hướng ) => gặp từ backward (adv): về phía sau

afterward (adv): về sau, sau này, sau đấy

earthward (adv): về phía trái đất

heavenward (adv): hướng lên trời

8. HỌC THEO ROOT LÀ SAO ??

Cách cấu tạo từ bao giờ cũng là cái root và các thành phần phụ prefix/suffix học root sẽ giúp bạn đoán nghĩa của từ dễ hơn ví dụ -bio- (G) life => biography, biology-graph- (G) write => autograph, graph search google để học thêm nhé :http://grammar.about.com/od/words/a/wordroots.htm8. HỌC THEO CƯỜNG ĐỘ LẶP LẠI CỦA TỪ Theo nghiên cứu, não bộ con người thường lưu và nhớ thông tin trong vòng 40 phút kể từ khi thu nhận thông tin ( cũng còn tùy người ), nếu thông tin không được lặp lại thường xuyên thì vùng thông tin đó sẽ bị “xóa sổ” trong não bộ của bạn, vì thế nhìu bạn học hôm nay nhưng hôm sau lại quên, hoặc vài bạn gặp tình trạng ” chời ơi, từ này tao có học rồi nè… nhìn quen lắm mầy ơi, mà tiếc là … tao quên mất tiêu cái nghĩa rồi >.” * giggle * :v  Tạo thói quen học từ mới đi kèm ôn lại từ cũ nhé, đến khi nào nhìn vào bik ngay nghĩa liền thì ok r, nó đã thuộc bộ phận tiềm thức và nhớ vĩnh viễn :))))

9. TẬP VIẾT STATUS BẰNG TIẾNG ANH:

Thay vì ngồi viết những status sầu đời hay vui đời bằng nội dung tiếng việt, tập viết bằng tiếng anh bằng cách sử dụng từ điển synonym thay thế những từ đơn giản như happy, big, sad, disappointed bằng những từ “level” hơn như exhilarated/ massive/melancholy/ downhearted ( nhớ tra oxford và cả cách dùng cho đúng ngữ cảnh và nôi dung nhé ), dùng bừa không ổn đâu. Cứ như vậy, mỗi lần mún viết cái gì bằng tiếng anh, “look up the dictionary and find the synonyms”, từ vựng sẽ ổn lên khá nhìu. :)))))

10. TỰ TẠO GAME CHO MÌNH HOẶC RỦ BAN BÈ HỌC CHUNG :

Tạo những tờ giấy với từ mới và synonyms, tự mình phân loại ( gộp những tờ có cùng nghĩa thành 1 nhóm ) xem coi khả năng nhớ từ của mình tới đâu, hoặc chơi game “trúc xanh” :V với bạn bè ( 1 từ mới và 1 definition của từ đó ), có người học và chơi chung dù s vẫn tốt hơn và mang tính cạnh tranh hơn => có đông lực học hơn.

11. HỌC FLASHCARD / PHẦN MỀM FLASHCARD;

chuẩn bị những mảnh giấy nho nhỏ hình vuông vừa vặn, một mặt viết NEW WORDS VÀ TỪ LOẠI ( noun, adj, adv ), mặt kia ghi định nghĩa kèm ví dụ, mỗi lần học nhìn từ và nhớ nghĩa của từ, nếu quên thì lật ra xem mặt sau và ghi nhớ, cứ như vậy, thường xuyên check khả năng nhớ của mình bằng cách xem flashcard mỗi ngày nhé :))))) Đảm bảo từ vựng sẽ lên thôi.

12, ĐỌC SÁCH/BÁO/TRUYỆN NHIỀU THẬT NHIỀU 

Sách báo là một thứ gì đó vô cùng “nhìu chữ và nhìu từ”, đọc hoài đọc hoài sẽ khiến bạn quen mặt chữ và quen cả những từ không quen để biến nó thành quen, đọc sách báo truyện tranh bằng tiếng anh cũng tăng kiến thức và mở rông ideas cho bản thân ( đặc biệt viết essay ). Thạm chí khiến bạn “thấm nhuần ngôn ngữ” từ lúc nào không hay, đọc tiếng anh mà tưởng đang đọc tiếng việt ấy :))) ( trình này chắc đọc cả trăm quyển truyện :v ),

no pain no gain, just keep trying ^^!

” be patient, keep studying and gain success”

Sưu tầm

Có hai thứ cha mẹ cần trang bị cho con cái, và chỉ hai thứ đó là đủ

Tỉ phú Hong Kong Yu Pang-Lin vừa qua đời ở tuổi 93, để lại di chúc hiến toàn bộ tài sản trị giá khoảng 2 tỉ USD cho hoạt động từ thiện.
“Nếu các con tôi giỏi hơn tôi thì chẳng cần phải để nhiều tiền cho chúng. Nếu chúng kém cỏi thì có nhiều tiền cũng chỉ có hại cho chúng mà thôi” – ông Yu Pang-Lin khẳng định.
Yu Pang-Lin không phải là người đầu tiên trên thế giới “keo kiệt” với con nhưng lại hào phóng với xã hội. Người giàu nhất thế giới – Bill Gates – từng tuyên bố sẽ chỉ để lại cho con 0,05% tổng tài sản kếch xù của mình. Báo chí hỏi tại sao lại như vậy, ông trả lời đại ý: Con tôi là con người, mà đã là con người thì phải tự kiếm sống, không chỉ kiếm sống để phục vụ chính bản thân mình mà còn phải góp phần thúc đẩy xã hội. Đã là con người thì phải lao động. Tại sao tôi phải cho con tiền?
Nhưng cũng có những người con sẵn sàng từ chối thứ mà “đời bố hi sinh” để “củng cố” cho mình. Stephen Covey – người từng được tạp chí Time bầu chọn là 1 trong 25 nhân vật ảnh hưởng nhất thế giới, tác giả cuốn sách nổi tiếng 7 thói quen để thành đạt – viết di chúc để lại tiền cho con và ra đi năm 2012.


Cả chín người con không ai nhận tiền. Họ lý giải rất giản dị rằng họ là những người bình thường và hoàn toàn có thể tự lao động, tự kiếm sống được.
Tương tự, tỉ phú Warren Buffett viết di chúc chỉ để lại 10% tài sản của mình cho con, còn lại là làm từ thiện. Tuy nhiên, ba người con, dù không phải quá giàu có, cũng từ chối và dành luôn số tiền đó cho từ thiện.
Những người cha kiên quyết không để lại tiền cho con hoặc những người con quyết liệt không nhận tài sản thừa kế chắc chắn không phải là những người không coi trọng đồng tiền, vì hơn ai hết họ đã phải đổ mồ hôi, công sức và trí tuệ cả đời để tạo dựng nên sản nghiệp.
Tuy nhiên, họ cũng hiểu có một thứ còn quý giá hơn tiền, quan trọng hơn tiền, đó chính là trách nhiệm, mà trước hết là trách nhiệm với chính mình (tự mình phải chịu trách nhiệm về mình), rồi trách nhiệm với gia đình, cộng đồng, xã hội… Họ cũng ý thức được một cách sâu sắc ẩn họa của việc xài những đồng tiền không do chính mình làm ra.
Có người nói rằng có hai thứ mà cha mẹ cần trang bị cho con cái và chỉ hai thứ đó là đủ, còn không, nếu có để lại cho con thứ gì đi nữa mà thiếu hai thứ đó thì coi như chưa cho con gì cả.
Hai thứ đó là: ý thức tự chịu trách nhiệm về bản thân mình và năng lực để tự chịu trách nhiệm.
Một con người biết trách nhiệm và có năng lực để thực hiện điều đó khi đi học sẽ học thực, học vì mình (và do đó sẽ khó có kiểu học đối phó; mua điểm, mua bằng; học vì cha, vì mẹ); khi đi làm sẽ làm hết mình, tự giác và luôn hướng tới hiệu quả cao nhất (và do đó sẽ không có kiểu làm “giả cầy”, thụ động; làm gian, làm dối như một vài trường hợp mà không khó cũng có thể nhận diện được ở nhiều cơ quan, công sở)…
Không để lại tiền cho con nhưng để lại cho con ý thức trách nhiệm và trang bị cho con năng lực để tự chịu trách nhiệm thông qua giáo dục làm người, giáo dục làm việc, ấy là đã để lại một sản nghiệp đồ sộ cho con rồi.

Sưu tầm

Makefiles

A tutorial by example

Compiling your source code files can be tedious, specially when you want to include several source files and have to type the compiling command everytime you want to do it.
Well, I have news for you… Your days of command line compiling are (mostly) over, because YOU will learn how to write Makefiles.
Makefiles are special format files that together with the make utility will help you to automagically build and manage your projects.For this session you will need these files:

I recommend creating a new directory and placing all the files in there.

note: I use g++ for compiling. You are free to change it to a compiler of your choice

The make utility

If you run

make

this program will look for a file named makefile in your directory, and then execute it.

If you have several makefiles, then you can execute them with the command:

make -f MyMakefile

There are several other switches to the make utility. For more info, man make.

Build Process

  1. Compiler takes the source files and outputs object files
  2. Linker takes the object files and creates an executable

Compiling by hand

The trivial way to compile the files and obtain an executable, is by running the command:

g++ main.cpp hello.cpp factorial.cpp -o hello

The basic Makefile

The basic makefile is composed of:


target: dependencies
[tab] system command

This syntax applied to our example would look like:

all:
    g++ main.cpp hello.cpp factorial.cpp -o hello

[Download here]

To run this makefile on your files, type:

make -f Makefile-1

On this first example we see that our target is called all. This is the default target for makefiles. The make utility will execute this target if no other one is specified.
We also see that there are no dependencies for target all, so make safely executes the system commands specified.

Finally, make compiles the program according to the command line we gave it.

Using dependencies

Sometimes is useful to use different targets. This is because if you modify a single file in your project, you don’t have to recompile everything, only what you modified.
Here is an example:

all: hello

hello: main.o factorial.o hello.o
    g++ main.o factorial.o hello.o -o hello

main.o: main.cpp
    g++ -c main.cpp

factorial.o: factorial.cpp
    g++ -c factorial.cpp

hello.o: hello.cpp
    g++ -c hello.cpp

clean:
    rm *o hello

[Download here]

Now we see that the target all has only dependencies, but no system commands. In order for make to execute correctly, it has to meet all the dependencies of the called target (in this case all).

Each of the dependencies are searched through all the targets available and executed if found.

In this example we see a target called clean. It is useful to have such target if you want to have a fast way to get rid of all the object files and executables.

Using variables and comments

You can also use variables when writing Makefiles. It comes in handy in situations where you want to change the compiler, or the compiler options.

# I am a comment, and I want to say that the variable CC will be
# the compiler to use.
CC=g++
# Hey!, I am comment number 2. I want to say that CFLAGS will be the
# options I'll pass to the compiler.
CFLAGS=-c -Wall

all: hello

hello: main.o factorial.o hello.o
    $(CC) main.o factorial.o hello.o -o hello

main.o: main.cpp
    $(CC) $(CFLAGS) main.cpp

factorial.o: factorial.cpp
    $(CC) $(CFLAGS) factorial.cpp

hello.o: hello.cpp
    $(CC) $(CFLAGS) hello.cpp

clean:
    rm *o hello

[Download here]

As you can see, variables can be very useful sometimes. To use them, just assign a value to a variable before you start to write your targets. After that, you can just use them with the dereference operator $(VAR).

Where to go from here

With this brief introduction to Makefiles, you can create some very sophisticated mechanisms for compiling your projects. However, this is just the tip of the iceberg. I don’t expect anyone to fully understand the example presented below without having consulted some Make documentation (which I had to do myself) or read pages 347 to 354 of your Unix book.

CC=g++
CFLAGS=-c -Wall
LDFLAGS=
SOURCES=main.cpp hello.cpp factorial.cpp
OBJECTS=$(SOURCES:.cpp=.o)
EXECUTABLE=hello

all: $(SOURCES) $(EXECUTABLE)
    
$(EXECUTABLE): $(OBJECTS) 
    $(CC) $(LDFLAGS) $(OBJECTS) -o $@

.cpp.o:
    $(CC) $(CFLAGS) $< -o $@


[Download here]

If you understand this last example, you could adapt it to your own personal projects changing only 2 lines, no matter how many additional files you have !!!.

Source: http://mrbook.org/blog/tutorials/make/

QUẢN LÝ USER, GROUP VÀ PHÂN QUYỀN TRÊN LINUX

Nội dung:
  1. User
  2. Group
  3. Tập lệnh quản lý User và Group
  4. Những file liên quan đến User và Group
  5. Quyền hạn
  6. Các lệnh liên quan đến quyền hạn
1.  User
User là người có thể truy cập đến hệ thống.
User có username và .
Có hai loại user: super user và regular user.
Mỗi user còn có một định danh riêng gọi là UID.
Định danh của người dùng bình thường sử dụng giá trị bắt đầu từ 500.

2.  Group
Group là tập hợp nhiều user lại.
Mỗi user luôn là thành viên của một group.
Khi tạo một user thì mặc định một group được tạo ra.
Mỗi group còn có một định danh riêng gọi là GID.
Định danh của group thường sử dụng giá trị bắt đầu từ 500.
3.  Tập lệnh quản lý User và Group
  • Tạo User:
Cú pháp: #useradd [option] <username>
-c “Thông tin người dùng”
-d <Thư mục cá nhân>
-m : Tạo thư mục cá nhân nếu chưa tồn tại
-g <nhóm của người dùng>
Ví dụ: #useradd –c “Nguyen Van A – Server Admin” –g serveradmin vana
  • Thay đổi thông tin cá nhân:
Cú pháp: #usermod [option] <username>
Những option tương tự Useradd
Ví dụ: #usermod –g kinhdoanh vana  //chuyển vana từ nhóm server admin sang nhóm kinh doanh.
  • Xóa người dùng
  Cúpháp : #userdel [option] <username>
Vídụ :  #userdel  –r  vana
  • Khóa/Mở khóa người dùng
passwd –l <username>  /  passwd –u <username>
usermod –L <username> /  usermod –U <username>
Trong /etc/shadow có thể khóa tài khoản bằng cách thay từ khóa x bằng từ khóa *.
  • Tạo nhóm:
Cú pháp: #groupadd <groupname>
Ví dụ: #groupadd serveradmin
  • Xóa nhóm
Cú pháp: #groupdel <groupname>
Ví dụ: #groupdel <serveradmin>
  • Xem thông tin về User và Group
Cú pháp: #id <option> <username>
Ví dụ: #id -g vana //xem GroupID của user vana
Cú pháp: #groups <username>
Ví dụ: #groups vana //xem tên nhóm của user vana
4.  Những file liên quan đến User và Group
#/etc/passwd
Mỗi dòng trong tập tin gồm có 7 trường, được phân cách bởi dấu hai chấm.
#/etc/group
Mỗi dòng trong tập tin gồm có 4 trường, được phân cách bởi dấu hai chấm.
#/etc/shadow
Lưu mật khẩu đã được mã hóa và chỉ có user  mới được quyền đọc.
5.  Quyền hạn
Trong Linux có 3 dạng đối tượng :
  • Owner (người sở hữu).
  • Group owner (nhóm sở hữu).
  • Other users (những người khác).
Các quyền hạn :
  • Read – r – 4  : cho phép đọc nội dung.
  • Write – w – 2  : dùng để tạo, thay đổi hay xóa.
  • Execute – x – 1  : thực thi chương trình.
Vídụ : Với lệnh ls –l ta thấy :
[root@task ~]# ls -l total 32 -rw-------. 1 root root 1416 Jan 10 14:06 anaconda-ks.cfg -rw-r--r--. 1 root root 15522 Jan 10 14:06.log -rw-r--r--. 1 root root 5337 Jan 10 14:06.log.syslog drwxr-xr-x 6 root root 4096 Feb 9 10:02 softs
Ngoài ra, chúng ta có thể dùng số.
Vídụ : quyền r, w, x : 4+2+1 = 7
Tổ hợp 3 quyền trên có giá trị từ 0 đến 7.
5.  Các lệnh liên quan đến quyền hạn
  • Lệnh Chmod : dùng để cấp quyền hạn.
Cú pháp : #chmod  <specification> <file>
Ví dụ: #chmod 644 baitap.txt   //cấp quyền cho owner có thể ghi các nhóm các chỉ có quyền đọc với file taptin.txt
  • Lệnh Chown : dùng thay đổi người sở hữu.
 Cú pháp : #chown  <owner>  <filename>
  • Lệnh Chgrp : dùng thay đổi nhóm sở hữu.
Cú pháp : #chgrp  <group>  <filename>
*  Quyền hạn1. Sơ lựơc về quyền

Trên Linux, quyền trên files hoặc thư mục được ghi vào trong inode của file hoặc thư mục đó. Để dễ quản lý, Linux xem mọi thứ như là file.
Để xem quyền, chúng ta có thể sử dụng lệnh “ls -l” như trong hình sau:
Image
Cột đầu tiên trong kết quả của lệnh ls -l thể hiện cho quyền hạn. Phần này bao gồm 10 bit:
– bit 1: thể hiện kiểu file (vd: “-” file thường, “d” thư mục,…)
– 9 bit còn lại chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm có 3 bit:
+owner: Quyền của user mà owner của file này.
+group: Quyền của những users thuộc group mà owner của file này.
+other: Quyền của tất cả các user khác trên máy.
Trong mỗi nhóm (3 bit) thể hiện cho các quyền đọc (r), ghi (w), thực thi (x). Nếu nơi nào không có quyền sẽ được ghi là denied (-).
Ký hiệu file thư mục
Không có quyền Không có quyền
r Có thể đọc file, ví dụ dùng lệnh cat, more, …. Có thể xem nội dung trong thư mục, ví dụ dùng lệnh ls.
w Có thể thêm, bớt nội dung trong file. Có thể tạo thêm hoặc xóa đi file hoặc thư mục con của thư mục này.
x Có thể thực thi file này, chỉ dùng trong trường hợp đây là program hoặc script. Có thể “đứng” trong thư mục được, vi dụ cd vào thư mục này.
2. Thay đổi quyền
Chỉ có user có quyền root, hoặc user là owner của file mới có thể thay đổi quyền của file đó. Lệnh chuyển quyền:
chmod mode file
Trong đó “mode” có thể được viết theo 2 cách: symbolic hoặc octal mode
a. symbolic mode
Image
Trong mode này chúng ta có thể thêm (+), bớt (-), gán (=) các quyền (r w x) cho từng nhóm (u g o) hoặc cho cả 3 nhóm (a).
Ưu điểm của mode này là chúng ta có thể kế thừa quyền củ.
vd:
chmod g-w myfile <=bỏ quyền write trên group.
chmod u+x,go+r <=thêm quyền thực thi cho owner, quyền đọc cho group và other.
b. octal mode
Trong mode này, mổi quyền được thể hiện bằng 1 số tương ứng:
– : 0
x : 1
w : 2
r : 4
Quyền sẽ được tính tổng trên từng nhóm, vd: r(4)+w(2)+x(1)=7.
Khi gán quyền phải gán cho cả 3 nhóm.
ví dụ quyền và số octal tương ứng:
644 rw-r–r–
751 rwxr-x–x
775 rwxrwxr-x
777 rwxrwxrwx
Dùng lệnh: chmod
chmod 644 myfile <=gán quyền 644 trên file.
Với cách sử dụng như trên, khi dùng octal mode chúng ta không kế thừa được quyền củ, nhưng bù lại chúng ngắn gọn dễ xài. :D
3. Quyền mặc định
Khi chúng ta tạo ra file hoặc thư mục, mặc nhiên hệ thống sẽ gán cho 1 quyền mặc định, trong đó:
File: 666 (rw-rw-rw-)
Thư mục: 777 (rwxrwxrwx)
Để thay đổi quyền mặc định khi tạo file và thư mục, hệ thống cung cấp cho chúng ta một công cụ đó là umask.
Như vậy, khi tạo ra file hoặc thư mục, thì quyền mặc định được tính như sau:
File: 666 – umask
Thư mục: 777 – umask
Ví dụ, nếu umask=022 thì quyền mặc định trên file và thư mục sẽ là (644) và (755)
Image
Lưu ý: ví dụ như umask=123, thì quyền mặc định cho file sẽ là (644) chứ không phải (543) nhé. Lý do vì sao bạn thử tìm hiểu xem ;)
Chúng có thể xem hoặc thay đổi giá trị umask như trong ví dụ sau:
$ umask
022
$ umask 027
$ umask
027
3. Thay đổi Owner
Chúng ta có thể thay đổi chủ sở hữu của file (owner) bằng lệnh sau:
chown -R [user.group] files
-R : đổi tất cả files và thư mục con.
Lệnh này cũng cho phép thay đổi owner chỉ riêng user hoặc group hoặc cả hai.
vd:
# ls -l
total 0
-rw-r–r– 1 nhsang nhsang 0 Nov 23 16:46 file1
-rw-r–r– 1 nhsang nhsang 0 Nov 23 16:46 file2
-rw-r–r– 1 nhsang nhsang 0 Nov 23 16:46 file3
# chown oravn file1 <=đổi user owner
# chown .dba file2 <=đổi group owner
# chown oravn.dba file3 <=đổi cả user và group owner
# ls -l
total 0
-rw-r–r– 1 oravn nhsang 0 Nov 23 16:46 file1
-rw-r–r– 1 nhsang dba 0 Nov 23 16:46 file2
-rw-r–r– 1 oravn dba 0 Nov 23 16:46 file3
#
Lưu ý là bạn chỉ có thể dùng lệnh này khi bạn là user mà owner của file này hoặc user có quyền root.
Liên quan đến phần quyền hạn, chúng ta còn 3 quyền đặc biệt là SUID, SGID và Sticky bit. Các bạn vui lòng tham khảo thêm trong các tài liệu tiếng Anh nhé.
IV. Tạo Links
Mục đích của links trên Linux là tạo ra nhiều tên hoặc alias cho file và thư mục.
Có 2 loại links: hard link và soft link (symbolic link)
Để tạo link chúng ta sử dụng lệnh sau:
ln [-s] filename linkname
-s : tạo softlink
1. Hard link
Nhằm tạo ra nhiều file hoặc thư mục có cùng sử dụng chung 1 inode. Do đó các files hoặc thư mục này phải cùng nằm chung trên 1 partition (chung bảng inode).
Tuy nhiên, chúng ta không thể dùng lệnh để tạo thêm hard link cho thư mục!
Ví dụ sau tạo thêm 1 file (hardlink) “hrdoravn.txt” cùng dùng chung inode (3074178) với file “oravn.txt”. Các bạn để ý con số hardlink-count từ 1 đã tăng lên 2 trong lệnh “ls -i” (con số đứng sau chuổi quyền hạn).
$ ls -i
3074178 oravn.txt
$ ls -li
total 4
3074178 -rw-rw-r– 1 nhsang nhsang 1 Nov 23 15:54 oravn.txt
$ ln oravn.txt hrdoravn.txt
$ ls -li
total 8
3074178 -rw-rw-r– 2 nhsang nhsang 1 Nov 23 15:54 hrdoravn.txt
3074178 -rw-rw-r– 2 nhsang nhsang 1 Nov 23 15:54 oravn.txt
$
2. Soft link
Nhằm tạo alias tới tên file hiện có, gần giống như shortcut trên MS Windows. Do đó bạn có thể link tới bất kỳ file nào trên cây thư mục.
Điểm khác nhau cơ bản giữa softlink và shortcut chính là trong softlink tới thư mục bạn có thể “nhảy” vào đó đứng được, hay nói cách khác là có thể cd vào “thư mục” link được.
Lưu ý khi tạo softlink, bạn nên ghi đường dẫn tuyệt đối cho tên source-file. Điều này sẽ giúp bạn khi bị lổi khi di chuyển file hoặc link đi nới khác.
Ví dụ sau tạo 1 softlink tới file và một softlink tới thư mục, sau đó cd vào trong softlink của thư mục.
$ ln -s /home/nhsang/oravn/oravn.txt sftoravn.txt
$ ls -li
total 8
3074178 -rw-rw-r– 2 nhsang nhsang 1 Nov 23 15:54 hrdoravn.txt
3074178 -rw-rw-r– 2 nhsang nhsang 1 Nov 23 15:54 oravn.txt
3074179 lrwxrwxrwx 1 nhsang nhsang 28 Nov 23 16:11 sftoravn.txt –Image/home/nhsang/oravn/oravn.txt
$ mkdir mydir
$ ln -s /home/nhsang/oravn/mydir sftmydir
$ cd sftmydir/
$ pwd
/home/nhsang/oravn/sftmydir
$
Nguồn: http://dacchieu.wordpress.com/